Tài Liệu Giáo Trình Công Nghệ Chế Biến Thực Phẩm Pdf, Download Tài Liệu Công Nghệ Chế Biến Thực Phẩm

Giáo trình Công nghệ chế biến thực phẩm đóng hộp được biên soạn làm tài liệu tham khảo cho khối ngành nông nghiệp, sinh học ứng dụng. Nội dung tài liệu gồm 2 phần: những quá trình cơ bản trong chế biến thực phẩm đóng hộp, giới thiệu kỹ thuật chế biến một số thực phẩm đóng hộp. Mời các bạn cùng tham khảo.

Đang xem: Giáo trình công nghệ chế biến thực phẩm pdf

*

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG GIÁO TRÌNHCÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐÓNG HỘP MÃ SỐ MÔN HỌC CB356 Biên soạn Thạc sĩ LÊ MỸ HỒNG NĂM 2005 PHẦN I NHỮNG QUÁ TRÌNH CƠ BẢNTRONG CHẾ BIẾN THỰC PHẨM ĐÓNG HỘP PHẦN IIGIỚI THIỆU KỸ THUẬT CHẾ BIẾNMỘT SỐ THỰC PHẨM ĐÓNG HỘPMỞ ĐẦU1. Lịch sử phát triển – Năm 1804, một người Pháp tên là Nicolas Appert đã biết chế biến thực phẩmđựng trong bao bì thủy tinh sản xuất phục vụ trên tàu, du lịch. – 1809 báo chí đã viết về ông và tác phẩm “L’art de fixer les saisons” và đếnnăm 1810 đã được dịch qua nhiều thứ tiếng. – Năm 1810, một người Anh tên là Pertet Durand dùng hộp sắt đựng thực phẩmthay cho bao bì thủy tinh . – Đến năm 1825, việc sản xuất đồ hộp đã hình thành. Hộp sắt đã được sản xuất,nhưng còn bằng phương pháp thủ công . – Năm 1849, người ta đã chế tạo được máy dập nắp hộp. Trong suốt những thời gian này, người ta chỉ biết cho rằng nguyên nhân gây hưhỏng thực phẩm là do không khí, mà chưa có cơ sở khoa học xác định. – Đến năm 1860, nhờ phát minh của Louis Pasteur (người Pháp) về vi sinh vật vàphương pháp thanh trùng, mới thật sự đặt được cơ sở khoa học cho ngành công nghiệpđồ hộp. Cũng từ đó ngành công nghiệp đồ hộp phát triển. – Năm 1861, biết dùng joint cao su làm vòng đệm trong nắp hộp. – Năm 1880, chế tạo được nồi thanh trùng đồ hộp. – Năm 1896, đã dùng bột cao su đặc biệt (Pasta) làm vòng đệm ở nắp hộp khighép kín hộp. Nền công nghiệp đồ hộp phát triển mạnh ở nhiều nước vào cuối thế kỷ19, đầu thế kỷ 20. Hiện nay trên thế giới đã có hơn 1000 mặt hàng đồ hộp khác nhau.Các nước sản xuất đồ hộp phát triển như: Mỹ, Pháp, Nhật, Ý, Hà Lan, Trung Quốc… Ở nước ta từ thời thượng cổ, tổ tiên ta biết chế biến các loại bánh gói lá, các loạigiò chả nấu chín và đã bảo quản được một thời gian ngắn. Những sản phẩm đó cũnggọi là đồ hộp . Đến năm 1954, ta được Liên Xô và các nước giúp đỡ xây dựng một số cơ sở chếbiến đồ hộp tại miền Bắc. Năm 1957, nhà máy cá hộp Hạ Long, Hải Phòng được xây dựng xong. Năm 1958, tiến hành thí nghiệm và sản xuất thử. Đến năm 1959, bắt đầu sản xuất một số mặt hàng thịt cá, rau, quả hộp xuất khẩuvà phục vụ chiến trường. Cũng cùng năm ấy xưởng chế biến chuối sấy được xây dựngxong tại Hà Nội. Năm 1960, nhà máy cá hộp Hạ Long đã sản xuất được với năng suất gần bằngvới năng suất thiết kế. Năm 1961, phát triển nhiều mặt hàng rau , quả, thịt cá hộp. Còn ở miền Nam, mãi đến năm 1970 mới bắt đầu hình thành một số cơ sở sảnxuất đồ hộp, tại thành phố Hồ Chí Minh. 1 Đến sau năm 1975, ngành công nghiệp đồ hộp ở miền Nam mới được chú trọngvà phát triển, sản xuất được nhiều mặt hàng thực phẩm có giá trị. Cho đến nay, nước ta đã thí nghiệm nghiên cứu được hàng trăm mặt hàng và đãđưa vào sản xuất có hiệu quả, đạt chất lượng cao. Trong đó có các mặt hàng có giá trịtrên thị trường quốc tế như: dứa, chuối, dưa chuột, nấm rơm đóng hộp…Các vùng cónhà máy sản xuất đồ hộp thực phẩm: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Sơn Tây, BiênHòa, Đồng Nai, Thành Phố Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Cần Thơ, Tiền Giang …2. Ý nghĩa Ngành công nghiệp đồ hộp thực phẩm phát triển mạnh có ý nghĩa to lớn cảithiện được đời sống của nhân dân, giảm nhẹ việc nấu nướng hàng ngày. Giải quyếtnhu cầu thực phẩm các vùng công nghiệp, các thành phố, địa phương thiếu thực phẩm,cho các đoàn du lịch, thám hiểm và cung cấp cho quốc phòng. Góp phần điều hòanguồn thực phẩm trong cả nước. Tăng nguồn hàng xuất khẩu, trao đổi hàng hóa vớinước ngoài. Hiện nay nhờ các ngành cơ khí, điện lực, chất dẻo, v.v… phát triển mạnh, đãlàm cho công nghiệp đồ hộp được cơ khí, tự động hóa ở nhiều dây chuyền sản xuất.Các ngành khoa học cơ bản như: hóa học, vi sinh vật học, công nghệ sinh học đangtrên đà phát triển: Đã được ứng dụng nhiều trong công nghiệp thực phẩm nói chung vàđồ hộp nói riêng, làm cho giá trị dinh dưỡng của thực phẩm được nâng cao và cất giữđược lâu hơn.3. Giới thiệu và phân loại đồ hộp Hiện nay ở nước ta cũng như ở các nước khác đã sản xuất được rất nhiều sảnphẩm đồ hộp khác nhau: từ rau, quả, thịt, cá, tôm, cua, sữa … 3.1. Các loại đồ hộp chế biến từ rau – Đồ hộp rau tự nhiên: Loại đồ hộp này chế biến từ rau tươi, không qua các quátrình chế biến sơ bộ bằng nhiệt. Nên sản phẩm vẫn còn giữ được tính chất gần giốngnhư nguyên liệu ban đầu. Trước khi sử dụng loại đồ hộp này thường phải chế biến haynấu lại. – Đồ hộp rau nấu thành món: Rau được chế biến cùng với thịt, cá, dầu, đường,muối, cà chua cô đặc và gia vị khác, đem rán hay hấp. Loại đồ hộp này dùng để ănngay không cần nấu lại. – Đồ hộp rau ngâm giấm: Chế biến từ rau với giấm đường, muối, gia vị khác.Loại đồ hộp này dùng trực tiếp trong bữa ăn. – Đồ hộp rau muối chua: Là các loại rau cho lên men lactic, loại đồ hộp nàycũng dùng để ăn ngay, không cần nấu lại . – Đồ hộp sauce cà chua: Chế biến từ cà chua, có thêm các nguyên liệu phụ như:đường, muối, giấm, dầu và các gia vị khác. – Đồ hộp cà chua cô đặc: Đây là bán chế phẩm. Dùng để nấu nướng và chế biếnsauce của một số đồ hộp thịt, cá . – Đồ hộp nước rau: Các loại đồ hộp nước giải khát (có chứa nhiều chất dinhdưỡng). Được chế biến từ các loại rau, củ có thể làm nước uống được. 2 3.2. Các loại đồ hộp chế biến từ quả – Đồ hộp quả nước đường: Loại đồ hộp này được chế biến từ các loại quả, quacác quá trình xử lý sơ bộ, rồi ngâm trong dung dịch nước đường, loại đồ hộp này còngiữ được tính chất đặc trưng của nguyên liệu. – Đồ hộp nước quả: Có 2 dạng: * Dạng nước quả không có thịt quả: Chế biến bằng cách ép để lấy dịch bào,lượng thịt quả có rất ít. * Dạng nước quả có thịt quả: Chế biến bằng cách chà lấy thịt quả, bao gồm dịchbào và phần mềm của quả. Đồ hộp nước quả dùng để uống trực tiếp hoặc lấy nước quả để chế biến mứtđông, sirô quả, rượu… – Đồ hộp mứt quả: Chế biến từ quả, cô đặc với đường đến hàm lượng chất khô:65 – 70% . Gồm nhiều dạng: * Mứt đông: Chế biến nước quả trong suốt, sản phẩm có trạng thái đông vàtrong suốt. * Mứt nhuyễn: Chế biến từ quả nghiền mịn, sản phẩm đặc, nhuyễn. * Mứt miếng đông: Chế biến từ miếng quả, sản phẩm là 1 khối đông có lẫnmiếng quả. * Mứt rim: Chế biến từ nguyên quả nấu với đường, sản phẩm dạng nguyên quả,ở dạng sirô đặc . * Mứt khô: Chế biến từ nguyên quả hoặc cắt miếng sản phẩm dạng khô, đườngở dạng kết tinh. 3.3. Các loại đồ hộp chế biến từ thịt – Đồ hộp thịt tự nhiên: Loại đồ hộp này không thêm gia vị, ở dạng bán chếphẩm . – Đồ hộp thịt gia vị: Là loại đồ hộp chế biến từ thịt nạc, có thể có 1 ít mỡ. Thịtđem chế biến, lúc vào hộp là thịt tươi, thịt đã nấu hoặc rán với gia vị . – Đồ hộp thịt đậu: Chế biến từ thịt với các loại đậu và gia vị . – Đồ hộp chế biến từ thịt đã chế biến: như xúc xích, jampon, paté, lạp xưởng… – Đồ hộp thịt gia cầm: Chế biến từ thịt gà, vịt, ngỗng…với gia vị. – Đồ hộp thịt ướp, thịt hun khói: Thịt được muối NaNO3, NaNO2 và xông khói. 3.4. Các loại đồ hộp chế biến từ thủy sản – Đồ hộp thủy sản không gia vị * Đồ hộp cá thu không gia vị * Đồ hộp tôm không gia vị * Đồ hộp cua không gia vị 3 * Đồ hộp nhuyễn thể không gia vị – Đồ hộp thủy sản có gia vị : * Đồ hộp cá có gia vị * Đồ hộp mực có gia vị – Đồ hộp cá sauce (sốt) cà chua: Được chế biến từ các loại cá biển, hấp, sấyhoặc rán, cùng với sauce (sốt) cà chua. – Đồ hộp cá ngâm dầu: Được chế biến từ các loại cá đã qua các quá trình hunkhói, sấy, hấp hoặc rán, ngâm trong dầu . * Đồ hộp cá ngâm dầu * Đồ hộp cá hun khói ngâm dầu * Đồ hộp lươn hun khói ngâm dầu 3.5. Các loại đồ hộp chế biến từ sữa – Đồ hộp sữa cô đặc có đường: Là sản phẩm sữa được bốc hơi nước ở trongnhững nồi cô chân không. Cô đặc sữa đã hòa đường ở nhiệt độ không cao lắm (khoảng50OC), nên chất lượng sữa không thay đổi nhiều. – Đồ hộp sữa bột: Sữa sau khi cô đặc, được sấy khô. Có thể sấy theo 2 phươngpháp: Sấy nóng và sấy lạnh. Sấy lạnh bảo đảm được phẩm chất của sữa hơn, nhưng tốnkém nhiều năng lượng và thời gian . – Đồ hộp sữa tươi: Sữa không qua giai đoạn chế biến lại, chỉ khử trùng, cho rathành phẩm. Ngoài ra còn có những loại đồ hộp sữa lên men, cho ra sản phẩm có hương vịkhác sữa: yaourt, sữa chua… Nói chung, đồ hộp thực phẩm rất đa dạng, mỗi loại sản phẩm có cách chế biếnkhác nhau, dùng các thiết bị khác nhau. Nhưng phần lớn các loại đồ hộp đều được chếbiến theo qui trình công nghệ cơ bản như sau: Nguyên liệu Lựa chọn, phân loại, rửa Chế biến sơ bộ bằng cơ học Chế biến sơ bộ bằng nhiệt Cho sản phẩm vào bao bì Bài khí – Ghép kín Thanh trùng – Làm nguội 4Bảo ôn – Dán nhãn Thành phẩm 5CHƯƠNG IQUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN SƠ BỘ NGUYÊN LIỆU BẰNG CƠ HỌCI. CHỌN LỰA, PHÂN LOẠI 1. Khái quát – Chọn lựa: là loại bỏ các thành phần nguyên liệu không đủ qui cách để chếbiến như bị sâu, bệnh thối hỏng, không đủ kích thước và hình dáng, màu sắc khôngthích hợp . Gia súc thì được kiểm tra vệ sinh và chọn những con béo khoẻ đem chế biến.Cá sử dụng cá còn tươi, không bị ươn thối. – Phân loại: nhằm phân chia nguyên liệu thành các phần có tính chất giốngnhau, có cùng kích thước, hình dáng, màu sắc, trọng lượng… để có chế độ xử lý thíchhợp cho từng loại và giúp thành phẩm có phẩm chất được đồng đều . Lựa chọn được tiến hành ngay sau khi thu nhận, khi đưa vào nơi chế biến:Rửa, vận chuyển, cắt gọt, cho sản phẩm vào bao bì… Việc phân loại, lựa chọn thường tiến hành bằng phương pháp thủ công. Nhưngvới phương pháp thủ công sẽ tốn nhiều công sức, và do giờ giấc làm việc liên tục, hoạtđộng căng thẳng, nên công nhân chóng mệt mỏi, thường ảnh hưởng không tốt đến chấtlượng phân loại. Do đó người ta có thể cơ khí hóa việc lựa chọn phân loại, dựa trên sựkhác nhau về màu sắc, kích thước và khối lượng riêng của nguyên liệu. 2. Các nguyên tắc phân loại, lựa chọn – Đối với các nguyên liệu cần phân loại theo màu sắc Nhờ ứng dụng tính chất của tế bào quang điện hoạt động theo sự thay đổi củatia sáng. Tùy theo trạng thái bề mặt của nguyên liệu (màu sắc, độ nhẵn) mà ánh sángphản chiếu có độ dài sóng khác nhau, từ đó có cường độ kích thích khác nhau lên tếbào quang điện . – Đối với nguyên liệu cần phân loại theo kích thước + Sử dụng máy phân cỡ kiểu rây lắc: Máy có nhiều tầng rây, có kích cỡ mắtlưới khác nhau, tầng trên cùng mắt lưới rộng nhất, tầng cuối cùng mắt lưới nhỏ nhất.Hệ thống rây chuyển động lắc nhờ bộ phận chấn động. Máy này dùng để phân loạinguyên liệu có kích thước nhỏ: Đậu phộng, mận… + Máy phân cỡ kiểu dây cáp: Bộ phận phân loại là hệ thống dây cáp căng giữahai trục quay, chuyển động theo chiều dọc của dây. Khe hơ ở giữa 2 dây cáp to dần.Quả đi giữa 2 dây cáp, sẽ rơi dần theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Máy này dùng để phânloại quả to như cam, bưởi, dưa leo, cà tím … – Đối với nguyên liệu cần phân loại theo trọng lượng riêng (phân loại hạtkhô) 5 Sử dụng máy phân loại thủy lực: Máy phân loại dựa theo độ nổi khác nhautrong chất lỏng do khối lượng riêng của nguyên liệu chênh lệch nhau. Máy phân loạithủy lực dùng để phân loại nguyên hạt: Đậu, lạc ( đậu phộng) v.v…II. RỬA 1. Khái quát – Sau khi lựa chọn phân loại, nguyên liệu được đưa qua khâu rửa. Ở giai đoạnrưả này nhằm mục đích là loại trừ các tạp chất, bụi, đất cát bám xung quanh nguyênliệu, đồng thời làm giảm 1 lượng lớn vi sinh vật ở nguyên liệu. – Gia súc trước khi giết mổ cần tắm rủa cho chúng bằng nước ấm (trong phòngchuyên dùng) và không nên cho gia súc ăn uống từ 12 – 24 giờ tùy theo loại gia súc(việc đình chỉ ăn uống của gia súc trước khi giết mổ nhằm thải bớt chất tiêu hoá, đảmbảo được điều kiện vệ sinh của việc mổ xẻ. Yêu cầu nguyên liệu sau khi rửa: Phải sạch, không bị dập nát, ít bị tổn thấtchất dinh dưỡng (khi rưả tránh để nguyên liệu tiếp xúc với nước lâu). 2. Tiêu chuẩn nước dùng trong công nghiệp thực phẩm Nước rửa cũng như nước dùng trong khi chế biến (như chần, pha chế) phải lànước sử dụng cho thực phẩm, đảm bảo các chỉ tiêu theo qui định. Nước phải trong,không màu, không mùi vị . Bảng 1.1. Tiêu chuẩn nước dùng trong công nghiệp thực phẩm 6 Tiêu chuẩn Chỉ tiêu Chỉ tiêu vật lý Không Mùi vị 100 ml Độ trong (ống Dienert) 5o Màu sắc (thang màu coban) 6,0 – 7,8 Chỉ tiêu hóa học 50 – 100 mg/l pH 50 mg/l CaO 0,3 mg/l MgO 0.2 mg/l Fe2O3 1,2 – 2,5 mg/l MnO 0.5 mg/l BO43- 0,1- 0,3 mg/l SO42- không NH4+ không NO2- 0,1 mg/l NO3- 0,05 mg/l Pb 2,0 mg/l As 5,0 mg/l Cu 0,3 – 0,5 mg/l Zn F 50 Tổng số vi sinh vật hiếu khí không có Chỉ số Coli (Số Coli/1lít nước) Chuẩn số Coli (Số ml nước có 1 Coli) Vi sinh vật gây bệnh (Nguyễn Vân Tiếp và ctv. 2000) Nước có độ cứng cao sẽ làm cho nguyên liệu rau quả chắc hơn (như vải, nhãn,dưa chuột …) nhưng một số rau họ đậu (có nhiều tinh bột) dễ bị sượng. Nói chung độcứng của nước rửa không quá 20 mg đương lượng/lít, để nấu không quá 15 mg đươnglượng/lít.

READ:  Combo Thực Phẩm Chức Năng Cho Trẻ Em : Hiểu Đúng Và Dùng Đúng

Xem thêm: Hướng Dẫn Cách Nấu Lẩu Ba Ba Ba Ngon Đặc Biệt Đơn Giản Nhất Tại Nhà

Xem thêm: Hướng Dẫn Cách Làm Món Bánh Canh Chả Cua Thơm Ngon Đơn Giản Tại Nhà

Khi dùng nước có nhiều hợp chất của sắt, màu sản phẩm dễ bị sẫm màu, dophản ứng giữa sắt với tanin. Nếu dùng nguồn nước ở sông, hồ thì phải qua hệ thống lọc trong và sát trùng.Lọc và làm trong nước bằng cách cho qua nhiều lớp sỏi, cát, than hoặc dùng phèn sáttrùng. Có thể dùng clorin, hoặc các hợp chất chứa Cl2: Clorur vôi, Javel… 3. Nguyên lý của quá trình rửa Quá trình rửa nhằm đảm bảo 2 giai đoạn: * Ngâm cho bở các cáu bẩn * và xối nước cho sạch hết bẩn. Thời gian rửa phụ thuộc vào giai đoạn đầu tức là phụ thuộc vào tính chất hóa lýcủa chất bẩn, sức bám chặt của nó vào nguyên liệu rửa và khả năng tác dụng của dungdịch rửa, có thể sử dụng máy như: – Máy rửa thùng quay 7 Thùng quay gây ra 1 tác dụng cơ học, chà sát lên mặt ngoài nguyên liệu rửa.Thùng quay thường có cấu tạo hình nón, nên việc vận chuyển nguyên liệu rửa qua máyliên tục. – Máy rửa sàng lắc Máy rửa sàng lắc làm việc theo phương pháp xối. Nguyên liệu trong quá trìnhrửa, do tác dụng chuyển động của sàng, bị cọ sát lên nhau, lên mặt sàng và được nướctừ trên phun xuống xối sạch. Do sàng đặt nghiêng và tác dụng lắc 2 chiều của sàng làmcho nguyên liệu chuyển liên tục từ chỗ vào đến chỗ ra. Máy dùng để rửa các loạinguyên liệu như quả tròìn cứng hoặc các loại hạt, ngoài ra còn dùng làm nguội nguyênliệu sau khi xử lý nhiệt. – Máy rửa bằng thủy lực Dùng trong các nhà máy đồ hộp để rửa các loại hạt như đậu, ngô non đem vàođóng hộp vv… Nó đồng thời vừa rửa,vừa tách riêng ra các tạp chất nặng lẫn vào nhaunhư sạn, cát, sắt vụn … và các tạp chất nhẹ như vỏ, rác rưởi hoặc các hạt thối lép vv… – Máy rửa bơi chèo Máy này là 1 thùng đựng nước, trong có gắn máy khuấy loại bơi chèo. Khi máykhuấy quay, nguyên liệu di chuyển cùng với vòi nước và được làm sạch. Sau đóï hệthống hoa sen sẽ tráng sạch đất cát. Máy này có hiệu qủa rửa cao, dùng cho các loạiquả cứng như cà rốt, khoai tây… – Máy rửa bàn chải Bộ phận cọ rửa là các bàn chải gắn trên trục quay. Nguyên liệu được rửa lạibằng tia nước phun, loại máy này thường dùng để rửa các loại qủa có cấu tạo chắc, bềmặt xù xì.III. LÀM SẠCH NGUYÊN LIỆU 1. Khái quát Quá trình làm sạch nhằm loại bỏ các phần không ăn được hoặc có giá trị dinhdưỡng thấp của nguyên liệu như: Vỏ, hạt, lõi, vảy, đầu cá. Để nâng cao gía trị của sảnphẩm, đồng thời có quá trình chế biến liên tục được thuận lợi như khả năng xay,nghiền được dễ hơn. Do hình dạng, cấu trúc của các nguyên liệu rất khác nhau và phứctạp nên các qúa trình làm sạch nguyên liệu thường tiến hành bằng phương pháp thủcông. Tuy nhiên có 1 số nguyên liệu được làm sạch bằng cơ khí. 2. Phương pháp làm sạch Có thể tiến hành làm sạch bằng 3 phương pháp: hoá học, nhiệt và cơ học 2.1. Phương pháp làm sạch vỏ quả bằng hóa chất Đối với một số quả có vỏ mỏng như khoai tây, carrot, mận, mận, ổi, múi camquít, ta có thể dùng dung dịch kiềm để bóc vỏ. Chất kiềm sử dụng phổ biến là NaOHcó độ tinh khiết từ 95% trở lên. Cũng có thể dùng Na2CO3, tuy có tác dụng kém hơn,nhưng rửa lại thì chóng sạch hơn NaOH. Thời gian ngâm rửa nguyên liệu phụ thuộc vào nồng độ và nhiệt độ của dungdịch NaOH. Tác dụng bóc vỏ đạt được khi nào rửa xối, lúc đó vỏ nguyên liệu bongtróc ra dễ dàng. 8 Nồng độ NaOH thường sử dụng 1,5 – 2 %. Quả xanh, kích thước lớn, cần nồngđộ cao hơn quả chín, kích thước nhỏ. Nhiệt độ dung dịch NaOH càng cao thì tác dụngbóc vỏ càng mạnh, nhưng không nên quá cao, sẽ làm chín mềm nguyên liệu. Thời gianngâm kéo dài từ vài giây đến vài phút. Giữa nguyên liệu và dung dịch ngâm cũng cầncó một tỉ lệ xác định. Bảng 1.2. Điều kiện thực hiện để bóc vỏ một số quả bằng NaOH Nồng độ Nhiệt độ Thời gian Tỉ lệ Loại quả dung dịch ngâm ngâm ngâm nguyên liệu – (%) (oC) (s) dung dịch ngâm Mận 10 70 – 80 150 – 240 1/10 – 1/15 Đào 1 – 2,5 – 30 – 60 – Ổi 4 70 – 80 300 1/5 – 1/10 Múi quít 1,2 75 – 80 5-8 1/20 – 1/30 (Nguyễn Vân Tiếp và ctv. 2000) Sau khi ngâm trong dung dịch NaOH, nguyên liệu được rửa lại trong nước luânlưu để loại vỏ và làm sạch NaOH bám vào nguyên liệu. Nguyên liệu sau khi rửa phảiđảm bảo sạch NaOH, thử lại bằng cách nhỏ vài giọt phenolphtalein không thấy xuấthiện màu hồng. 2.2. Phương pháp bóc vỏ bằng nhịêt Để bóc vỏ loại quả có múi, cà chua, người ta nhúng vào nước sôi. Nếu chầncam, quít trong nước 90 – 100oC trong 20 – 60 giây hay 80 – 90oC trong 60 – 90 giâythì tốc độ bóc vỏ, tách múi, tước xơ tăng gấp 4 lần so với không chần. 2.3. Phương pháp làm sạch nguyên liệu bằng cơ học Dùng máy làm sạch, tùy theo yêu cầu làm sạch mà sử dụng máy thích hợp – Làm sạch vỏ củ Dùng để làm sạch vỏ lụa: khoai tây, cà rốt… Bản chất của quá trình làm sạch vỏbằng máy là tạo nên sự va chạm và chà xát của nguyên liệu lên bề mặt nhám của thiếtbị, làm cho lớp vỏ trên bề mặt của nguyên liệu bị tróc ra rồi dùng nước xối đi. – Đánh vảy cá Tương tự như các máy làm sạch vỏ củ, nguyên tắc làm việc của máy đánh vảycá là tạo nên sự va chạm, chà xát lên bề mặt cá để vẩy tróc ra, rồi dùng vòi nước xốiđi. 9 Hình 1.1. Máy tách vỏ củ – Tách hạt cà chua Là một hệ thống nhiều máy phối hợp, vừa tách vỏ, hạt cà chua, vừa chà mịnthành purée. Hệ thống máy gồm: Máy nghiền 2 trục quay, máy ly tâm hình nón, máychà, máy nghiền 1 trục quay.IV. LÀM NHỎ NGUYÊN LIỆU Trong sản xuất đồ hộp người ta dùng tác dụng cơ học để làm thay đổi kíchthước, hình dáng nguyên liệu thành dạng nhỏ và đông đều theo yêu cầu của từng loạisản phẩm. Quá trình này nếu thực hiện bằng tay sẽ tốn nhiều công sức, mức độ đồngđều kém. Vì vậy, người ta thường dùng máy để nâng cao năng suất và đảm bảo tínhchất đồng đều của nguyên liệu sau khi làm nhỏ. Quá trình làm nhỏ phổ biến trong sảnxuất đồ hộp thực phẩm: Cắt, xay, nghiền, đồng hóa. 1. Cắt nguyên liệu Tùy theo mục đích làm nhỏ và đặc tính nguyên liệu, người ta dùng các loại dao:Thẳng, dao đĩa hay dao cong. Về cấu tạo lưỡi dao, có 2 loại: Lưỡi dao phẳng để cắtnguyên liệu mềm, lưỡi răng cưa để cắt nguyên liệu cứng. 2. Xay, nghiền nguyên liệu + Để nghiền nhỏ nguyên liệu, người ta thường dùng nhiều nguyên tắc khácnhau như đập nhỏ, xé nhỏ, bẻ nhỏ…Theo nguyên tắc này hay nguyên tắc khác là tùytheo từng loại nguyên liệu và tùy theo yêu cầu của từng quá trình kỹ thuật sản xuất.Trong sản xuất đồ hộp, tùy theo mức độ nghiền nhỏ của nguyên liệu mà chúng ta cóthể chia ra: Nghiền nhỏ, nghiền mịn… Nghiền nhỏ là nghiền đến kích thước tối thiểu1,00 mm, thường gặp ở các máy nghiền rau quả, máy xay thịt. Nghiền đến kích thước0,5 mm hoặc 0,01 mm, thường gặp khi qua máy chà, máy đồng hóa . + Các máy xay nghiền: * Máy nghiền 1 trục: Loại máy này dùng để nghiền nhỏ các loại rau quả tương đối cứng. Đặc điểmcủa máy là số vòng quay của trục nghiền rất lớn . * Máy nghiền 2 trục: Trong sản xuất, để nghiền các loại qủa mềm hơn như cà chua, dứa… lực nghiềnkhông lớn lắm, người ta thường dùng phổ biến loại máy nghiền 2 trục, có 2 kiểu: Máynghiền dao cong và máy nghiền trục (máy nghiền trục đinh). 3. Đồng hóa Đồng hóa là làm tơi, mịn các thực phẩm lỏng (làm cho các phần tử của sảnphẩm có kích thước rất nhỏ, giảm từ 265 µm đến vài chục micrometer) nhằm tăng độmịn của sản phẩm, làm cho sản phẩm không bị phân lớp. Máy đồng hóa: nguyên tắc làm việc của máy là dùng áp lực cao, đẩy sản phẩmđi qua các khe hở rất nhỏ (áp suất của sản phẩm vào khoảng 150 kg/cm2 và khi ra khỏikhe nhỏ chỉ còn khoảng 2 – 3 kg/cm2) Khi thay đổi áp suất một cách đột ngột và tốc độtăng lên nhiều, làm cho sản phẩm bị tơi nhỏ ra. 10 Kích thước của khe hở có thể điều chỉnh được từ 0,1 – 0,15 mm. Tốc độ chuyểnđộng của sản phẩm qua khe hở: 150 – 200 m/s. Đường đi của sản phẩm Đường đi của sản phẩm Hình 1.2. Bộ phận đồng hóa 11Hình 1.3. Thiết bị đồng hóa 12V. PHÂN CHIA NGUYÊN LIỆU Quá trình phân chia nguyên liệu như chà, ép, lọc, lắng, ly tâm nhằm 2 mục đích – Loại bỏ phần nguyên liệu có gía trị dinh dưỡng thấp hoặc không ăn được gọilà bã, cặn. – Làm cho nguyên liệu đồng nhất về trạng thái và thành phần để chế biến đượcthuận lợi và nâng cao chất lượng thành phẩm. 1. Chà – Phương pháp chà dùng trong sản xuất cà chua cô đặc và nước qủa có thịt qủa,mứt qủa, nghĩa là dùng để phân chia nguyên liệu rau qủa có cấu tạo mềm thành 2phần: phần lỏng qua rây để sản xuất sản phẩm chính, phần bã còn lại trên rây. – Rây được làm bằng thép không rỉ có đục lỗ nhỏ, với kích thước: 0,5; 0,75; 1;1,5 mm. Để sản xuất nước quả đục, người ta thường dùng lỗ rây có ∅: 0,50 – 0,75 mm. Để sản xuất cà chua cô đặc, mứt chuối, dứa dùng lỗ rây có ∅: 1,0-1,5mm. – Năng suất máy chà được tính theo công thức : DL2 Q = 0,07 nϕ (kg/h) tgα D: Đường kính của rây (m) L: Chiều dài cánh đập (m) α: góc nghiêng của cánh chà so với trục quay n: Số vòng quay/phút ϕ: Tổng diện tích lỗ rây so với diện tích rây (23 – 45 %) 5. Trục quay 1. Vít xoắn tải nguyên liệu 6. Mặt rây 2. Phễu nhập liệu 7. Cửa tháo bã chà 3. Bơi chèo chuyển nguyên liệu 4. Cánh chà Hình 1.4. Cấu tạo của máy chà 1314 2. Ép – Trong sản xuất nước rau quả, ép là phương pháp chủ yếu để tách dịch bào rakhỏi nguyên liệu. Trong quá trình ép, hiệu suất ép là chỉ tiêu quan trọng nhất. Hiệusuất ép phụ thuộc vào các yếu tố : * Phẩm chất của nguyên liệu * Phương pháp sơ chế * Cấu tạo, chiều dày, độ chắc của khối nguyên liệu * Áp suất ép – Hiệu suất ép được tính theo công thức : B = a ( ϕ1 + ϕ2 ) k. b (%) a: Hệ số tính đến sự tổn thất nước ép do bã và thiết bị thấm ướt b: Hàm lượng dịch bào trong nguyên liệu . k: Hệ số đặc trưng cho sự bảo toàn ống mao dẫn . ϕ1: Mức độ biến tính chất nguyên sinh khi cơ chế (0 – 1,0) ϕ2: Mức độ phá vỡ màng chất nguyên sinh khi ép (0,1 – 0,2). Tổng số ( ϕ1+ ϕ2 ) ≤ 1 – Giới thiệu máy ép : * Máy ép giỏ trục vít : Hiệu suất ép chỉ đạt 40 – 50 % * Máy ép thủy lực : Hiệu suất ép trên máy này cao, đạt khoảng 55 – 60 % * Máy ép trục xoắn : Máy có hiệu suất ép cao, đạt khoảng 83 – 85 %. Có khi đạt tới 90 %.Nhưng máy này có nhược điểm là các phần tử lơ lửng lẩn trong nước ép lớn hơn trongcác máy gián đoạn.Hình 1.5. Máy ép thủy lực 15 3. Lọc Khi sản xuất nước quả thông thường, người ta dùng phương pháp lọc để táchcác phần tử có kích thước tương đối lớn và cặn bã (lọc thô). Trong sản xuất nước quảtrong suốt, người ta phải lọc để loại cả các hạt rất nhỏ của thịt quả (lọc trong). Lọc có thể tiến hành ở áp suất không đổi hay vận tốc không đổi. Đối với nướcquả ép, thường chỉ lọc với áp suất không đổi và không nên lọc ở áp suất cao dễ làmcho các cặn bị ép lại dẫn đến tắt lỗ lọc. – Tốc độ lọc được xác định theo công thức: Π d4 P n V= (m3 / m2.s) 128 µ α h d: Đường kính ống mao dẫn trong lớp cặn (m). P: Chênh lệch áp suất ở 2 đầu ống mao dẫn (N/m 2). n: Số lỗ lọc của bản lọc, số lỗ lọc/1 m2 . µ: Độ nhớt động lực của nước quả (Ns/m2). h: Chiều cao của lớp cặn (m). α: Hệ số chỉ sự cong queo của ống mao dẫn. – Tốc độ lọc phụ thuộc vào : * Áp suất của nước quả. * Bề dày và cơ cấu của lớp cặn. * Nhiệt độ và độ nhớt của nước quả. – Vật liệu lọc thường dùng là vải lọc, giấy lọc, sợi amiant, betonit … – Thiết bị lọc: thường dùng thiết bị lọc khung bản, còn gọi là máy lọc ép. 16

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Thực phẩm

Related Articles

Trả lời

Back to top button